Astral.vn – Cuốn sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 được viết bởi tác giả Nguyễn Đức Hiệp, bàn về chủ đề Lịch Sử – Địa Lý – Tôn… và được in với hình thức .

Quyển sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 được nhà xuất bản Bìa Mềm phát hành
2019 .

Bạn đang xem: Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 PDF

Thông tin về sách

Tác giả Nguyễn Đức Hiệp
Nhà xuất bản Bìa Mềm
Ngày xuất bản 2019
Số trang 490
Loại bìa
Trọng lượng 500 gram
Người dịch

Download ebook Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 PDF

Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925

Tải sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 PDF ngay tại đây

TẢI SÁCH PDF NGAY

Review sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925

Hình ảnh bìa sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925

image

image

image

Đang cập nhật…

Nội dung sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925

Sài Gòn và Nam kỳ trong thời kỳ Canh tân 1875 – 1925
Sau khi chiếm được Sài Gòn và Nam kỳ làm thuộc địa, người Pháp nhanh chóng thiết lập và củng cố hệ thống hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát huy thương mại ở mảnh đất phì nhiêu và thuận lợi cho giao thông kinh tế, nằm giữa đường hàng hải nối Singapore và Đông Á (Hong Kong, Trung Hoa và Nhật Bản). Theo sắc lệnh ngày 4 tháng 4 năm 1867, đề đốc de la Grandière thiết lập một Ủy ban thành phố gồm một ủy viên thành phố và 12 nghị viên. Nhiệm vụ của Ủy ban thành phố này cũng giống như Hội đồng Thành phố sau này (12). Đến năm 1869, đề đốc Ohier muốn dân thành phố có tiếng nói nên ra sắc lệnh ngày 8/7/1869 với tên chính thức là Hội đồng Thành phố và 13 nghị viên trong đó 7 là do dân bầu và 6 do Thống đốc chỉ định, ông Turc, y sĩ hải quân, là thị trưởng đầu tiên.

Từ chỗ đứng này trên bán đảo Đông Dương, với Sài Gòn là thủ phủ, chính quyền Pháp bắt đầu để ý đến Cam Bốt và vùng sông Mê Kông với mục đích làm chủ sông Mê Kông từ hạ nguồn lên đến thượng nguồn để đi đến thị trường Trung Hoa rộng lớn, giấc mơ của bao nhiêu công ty, nhà thương mại của các nước Tây phương.

Thực hiện mục đích này, các đời Thống đốc Nam kỳ trong giai đoạn đầu đã làm áp lực chính trị và ngoại giao tạo ảnh hưởng đến vương quốc Cam Bốt. Pháp đã thành công lập được sự bảo hộ ở Cam Bốt vào năm 1863 (chỉ vài năm sau khi làm chủ Sài Gòn) chủ yếu là do triều đình Cam Bốt bị nước Xiêm (Thái Lan) hùng mạnh đe dọa và dễ dàng muốn chịu ảnh hưởng của Pháp để thoát khỏi sự lấn dần của Xiêm.

Với Cam Bốt nằm trong vùng ảnh hưởng của chính quyền Pháp ở Sài Gòn, họ đã gởi các đoàn thám hiểm từ Sài Gòn đi ngược dòng sông Mê Kông lên Cam Bốt và Lào để cố gắng thiết lập đường giao thông đến Vân Nam, Nam Trung Hoa. Đoàn thám hiểm đầu tiên là Doudard de Lagrée lên Cam Bốt, và đã tìm lại được khu đền Angkor với những bức ảnh đầu tiên chụp tại đây. Đường đi lên Lào để đến Vân Nam đầy khó khăn vì quá nhiều ghềnh thác, nhiều người trong đoàn đã mất vì bệnh và đuối sức và chỉ một vài người (trong đó có viên sĩ quan trẻ Francis Garnier) chông gai đến được Vân Nam và trở về Sài Gòn qua đường biển.

Với ước mơ đường giao thông từ Sài Gòn lên Vân Nam biến mất, ở Sài Gòn người Pháp bắt đầu để ý đến miền Bắc Việt Nam kế cận Vân Nam và Nam Trung Hoa. Từ đây đến Vân Nam khả thi và dễ dàng hơn. Với ý nghĩ này, Pháp bắt đầu tìm cách gây hấn với triều đình Huế và tạo dịp để có chân ở Bắc bộ. Từ Sài Gòn, năm 1873 Pháp đã gởi một đội quân do trung úy hải quân Francis Garnier chỉ huy đi tàu đến Hà Nội lấy cớ bảo vệ thương gia Pháp Jean Dupuis đang có xích mích tại đây với chính quyền Việt Nam của triều đình Huế. Quân Garnier gây hấn đánh chiếm thành Hà Nội, nhưng sau khi Garnier bị tử trận, chính quyền Pháp ở Sài Gòn cùng triều đình ký hòa ước 1874. 

Không lâu sau đó Pháp trở lại Bắc kỳ đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh, chiến tranh lan rộng cho đến khi Pháp đánh chiếm cửa Thuận An gần kinh đô Huế. Mặc dầu vậy chiến dịch Bắc kỳ vẫn tiếp tục giữa quân viễn chinh Pháp và quân triều đình do Hoàng Kế Viêm lãnh đạo cùng với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc dưới sự hỗ trợ của nhà Thanh cho đến khi chiến tranh Pháp – Thanh chính thức xảy ra (1884 – 1885). Chỉ sau khi chiến tranh Pháp – Thanh chấm dứt với hòa ước Thiên Tân (1885) thì Trung Hoa mới từ bỏ sự bảo hộ của họ từ nhiều thế kỷ trước và chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Hòa ước Patenôtre 1884 nối tiếp hòa ước Harmand 1883 đặt Việt Nam hoàn toàn dưới sự đô hộ của Pháp với Nam kỳ là thuộc địa và Bắc kỳ, Trung kỳ là các xứ bảo hộ giống như Cam Bốt.

Cuộc khởi nghĩa chống Pháp và tay sai lớn nhất trong giai đoạn Pháp đặt nền bảo hộ lên Bắc kỳ và Trung kỳ là cuộc khởi nghĩa của người dân 18 thôn vườn trầu ở Hóc Môn – Bà Điểm xảy ra vào năm 1885. Lợi dụng quyền thế của mình và được Pháp tin cậy, đốc phủ sứ Trần Tử Ca đã tham ô, áp bức dân lành, tước đoạt tài sản, đất đai người dân là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự khởi nghĩa của người dân ở Sài Gòn – Chợ Lớn và ngoại thành. Đây cũng là khởi đầu của sự tham gia các tổ chức hội kín Thiên Địa hội và tôn giáo mà 20 năm sau đã bộc phát với sự khởi nghĩa của Phan Xích Long.

Sự thiết lập đường dây thép nối Sài Gòn, các tỉnh ở Nam kỳ và Cam Bốt sau đó được lan ra Trung kỳ và Bắc kỳ cuối cùng đến Lào là công trình thiết lập cơ sở hạ tầng rất quan trọng cho thực dân Pháp để thông tin liên lạc từ trung ương đến các địa phương trong mọi công việc từ hành chính, ngoại giao đến kinh tế và quân sự. Không có hệ thống truyền tin nhanh chóng này, thực dân Pháp không thể quản lý và điều hành trên một lãnh thổ rộng lớn của Đông Dương với địa hình đa dạng và khó khăn đi lại.

Chuyển tiếp từ giai đoạn chiếm đóng của thời các Thống đốc đề đốc hải quân đến giai đoạn củng cố và xây dựng cơ sở hạ tầng và hành chính bắt đầu với sự bổ nhiệm Thống đốc dân sự đầu tiên Le Myre de Vilers (1879 – 1882). Ông Le Myre de Vilers đã thiết lập trong thời gian ngắn làm Thống đốc các công trình xây cất cơ sở hạ tầng dân sự quan trọng từ các công sở đến đường bộ, đường thủy, đường sắt. Ở Sài Gòn, cơ sở hạ tầng cung cấp nước, cơ sở y tế và nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur được thành lập và phát triển. Đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng cung cấp nước cho một thành phố hiện đại ngày càng phát triển. Cung cấp nguồn nước sạch là điều kiện tiên quyết cho an toàn y tế công cộng mà trước đó các cơn bệnh dịch tả truyền nhiễm đã làm tử vong rất nhiều người Pháp, Việt, Hoa. Về phương diện kinh tế, Nam kỳ vẫn tùy thuộc vào sản xuất và xuất cảng lúa gạo mà các tỉnh miền Tây là chủ lực. Hệ thống giao thông qua sông và kinh rạch nối các tỉnh với Sài Gòn và Chợ Lớn là huyết mạch ở nơi này. Các kinh rạch được đào và các vùng đất mới thênh thang được mở mang với các lưu dân vào lập nghiệp. Nhưng điều này cũng dẫn đến những vụ tham nhũng chiếm đoạt đất của nông dân đến định cư của các quan lại, viên chức địa phương. Vấn đề đất đai và chiếm đất đã đưa đến vụ nổi dậy của người dân ở làng Ninh Thạnh Lợi (Rạch Giá) năm 1927 và vụ án ở làng Phong Thạnh (Bạc Liêu) năm 1928 còn được gọi là vụ án đồng Nọc Nạng.

Về phương diện hành chính và đại diện dân cử, ông Le Myre de Vilers thành lập Hội đồng Quản hạt (Conseil colonial) qua nghị định ngày 8/2/1880, và các Hội đồng hạt (Conseils d’arrondissement, Hội đồng quận ở địa phương) ngày 15/5/1882. Ở cấp thành phố, ông cải tổ Hội đồng Thành phố Sài Gòn và thành lập thêm Hội đồng Thành phố Chợ Lớn. Luật ban hành ngày 28/7/1881 theo đó Nam kỳ có một đại biểu ở quốc hội Pháp. Ông cũng bãi bỏ hệ thống lao động cưỡng bách (corvée) ở khắp Nam kỳ cho những người không đóng thuế thân mà ông cho là không có lợi về kinh tế và chính trị.

Qua thế kỷ XX, ở Sài Gòn, sự thành lập chợ mới Bến Thành thay thế chợ cũ biểu hiện cho sự phát triển đô thị với chợ mới Bến Thành trở thành trung tâm mua bán đủ loại các hàng hóa Tây, ta sau đó được truyền bá đi đến lục tỉnh qua mạng giao thông đường bộ và đường xe lửa thay thế giao thông truyền thống đường thủy theo kinh rạch. Người Việt nhận thấy sự cần thiết canh tân xã hội và tư tưởng, trong đó sự phát triển dân trí và kinh tế tự lực là tiền đề để giành lại độc lập. Phong trào Minh Tân do các trí thức đứng đầu là Gilbert Trần Chánh Chiếu khởi xướng mà trọng tâm là tự lực và phát triển công nghệ, thương mại của người Việt cạnh tranh với người Hoa, Pháp và Ấn để có sức mạnh kinh tế và tiếng nói trong lĩnh vực chính trị. Mặc dầu không tồn tại lâu nhưng phong trào Minh Tân đã tạo nên ý thức trong quần chúng về nhận thức của sự cần thiết phải canh tân theo tân học nhất là sau cuộc biến động của hội kín Phan Xích Long – Thiên Địa hội mang nhiều tính chất tôn giáo huyền thoại thu hút đông đảo người dân tương tự như cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Bắc kỳ tin theo thần trí của Kỳ Đồng.

Sự thành lập của Viện Hải Dương học ở Nha Trang năm 1930 (tiền thân là “Service des Pêche de l’Indochine” thành lập năm 1922) với nhiều nhà khoa học khảo cứu về sinh học, tài nguyên biển, sông ngòi và hồ ở Đông Dương dùng các phương tiện hiện đại như tàu nghiên cứu de Lanessan đã cho ta nhiều công trình nghiên cứu giá trị đặc thù của Biển Đông và sông nước ở Đông Dương. Đặc biệt là các chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa và các công bố khoa học liên quan đến quần đảo này trong thập niên 1920 và 1930. Đây cũng là giai đoạn mà người Pháp chú ý đến vấn đề chủ quyền biển đảo ở Hoàng Sa sau khi xác định được chủ quyền lịch sử của Việt Nam qua triều đình Huế từ thời Gia Long. Xây dựng hải đăng trên đảo Pattle (Hoàng Sa) cho tàu bè các nước đi lại là một trong các hệ quả của sự xác định chủ quyền và đem quân đến chiếm đóng vào lúc chiến tranh Trung – Nhật diễn ra, trước sự đe dọa của Nhật lúc tình hình quốc tế ở Thái Bình Dương căng thẳng là những động tác thiết thực có tính cách chiến lược về chủ quyền. 

Về phương diện văn hóa, sự hình thành và phát triển cải lương qua sự kết hợp của hát bội, đờn ca tài tử và ảnh hưởng sân khấu kịch Tây phương là sự kiện nổi bật của sân khấu nghệ thuật trong giai đoạn 1910 – 1925. Sự phát triển của báo chí và văn học quốc ngữ được thuận lợi qua sự hình thành của các nhà in, nhà xuất bản người Việt từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Văn học chữ quốc ngữ ở Sài Gòn và Nam kỳ từ cuối thế kỷ XIX cho đến thập niên 1920 mở đầu cho nền văn học hiện đại Việt Nam với nhiều tác phẩm phản ảnh sự thay đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người Việt trong giai đoạn canh tân. 

Về phương diện chính trị, hoạt động của người Việt chỉ giới hạn trong các Hội đồng Quản hạt, Hội đồng Thành phố và Hội đồng hạt ở các tỉnh nơi mà đa số các đại biểu hay nghị viên là thân Pháp. Sự thành lập của Đảng Lập Hiến do ông Bùi Quang Chiêu và các nhà trí thức Tây học, điền chủ, nghiệp chủ giàu có thành lâp. Sự tham gia chính trị của Đảng Lập Hiến tranh đấu cho quyền lợi người bản xứ thuộc giai cấp trung lưu và khá giả đánh dấu giai đoạn hợp tác ôn hòa với hy vọng quyền lợi người Việt được bảo vệ và sẽ có sự tự trị hay độc lập trong tương lai qua các cải tổ. Nhưng điều này đã không xảy ra như Đảng Lập Hiến mong mỏi và vì thế họ đã dần mất tín nhiệm dưới mắt người Việt. 

Sự mất tín nhiệm của Đảng Lập Hiến với chính sách “Pháp – Việt đề huề” sau nhiều năm đại diện người Việt ở lục tỉnh trong Hội đồng Quản hạt và Hội đồng Thành phố đã dẫn tới sự thành lập các phong trào, tổ chức đảng phải theo cộng sản đệ tứ và đệ tam tranh đấu giành độc lập từ năm 1925 đến 1945. Giai đoạn tranh đấu giành độc lập thoát khỏi thời Pháp thuộc là giai đoạn oai hùng bất khuất của dân tộc Việt trong lịch sử cận đại mà chúng tôi sẽ triển khai trong quyển sách nghiên cứu sắp tới.

Trích đoạn:

—  Trích tờ Le Petit Parisien (27/12/1909) cho biết các truyền đơn nổi dậy chống Pháp in ở Nhật đã được phát tán ở Nam Kỳ , và ông Gilbert Chiếu khi làm chủ bút tờ Nông cổ mín đàm đã cài vào báo tờ truyền đơn mà kiểm duyệt Pháp không biết nội dung do sự thiếu hiểu biết của quan chức Pháp. Tờ truyền đơn kêu gọi nổi dậy dược dịch ra tiếng Pháp như sau:

“Chúng ta là những người chủ đương nhiên của đất nước, nếu không giữ được đất nước, chúng ta sẽ không thể hưởng được quyền sở hữu ấy.

Hãy xem nước Phổ và Hoa Kỳ, họ cũng có những khó khăn, thất bại, nhưng họ đã phục hưng, canh tân lại đất nước bằng cách từ bỏ những thói quen của mình.

Trong lúc giải trí, tôi đọc sách lịch sử và nhận thấy người Nhật đã hoàn toàn thành công trong công cuộc cải cách của mình.

Bằng cách kết hợp tất cả các nỗ lực, họ đã tạo ra cho mình một chỗ đứng xứng đáng trên thế giới”. —

Mua sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 ở đâu

Bạn có thể mua sách Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 tại đây với giá

175.000 đ
(Cập nhật ngày 12/03/2023 )

Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 PDF

Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 MOBI

Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 Nguyễn Đức Hiệp ebook

Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 EPUB

Sài Gòn Và Nam Kỳ Trong Thời Kỳ Canh Tân 1875-1925 full

Tìm hiểu thêm
Lịch sử – Địa lý – Tôn giáo …
Nguyễn Đức Xie
bìa mềm

2019

490

500

Sài Gòn và Nam Kỳ trong cuộc Cải cách 1875-1925

Sau khi chiếm Sài Gòn và Nam Kỳ làm thuộc địa, người Pháp đã nhanh chóng thiết lập và củng cố hệ thống hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy kinh tế thương mại trên vùng đất màu mỡ, thông thương và dễ đi lại này, nằm trong khu vực nối liền Singapore và Đông Á (Hồng Kông, Trung Quốc. và Nhật Bản). Bằng sắc lệnh ngày 4 tháng 4 năm 1867, Đô đốc de la Grandier thành lập một hội đồng thành phố bao gồm một ủy viên thành phố và 12 thành viên. Nhiệm vụ của hội đồng thành phố này cũng giống như các hội đồng thành phố sau này (12). Đến năm 1869, Đô đốc O’Hill muốn có tiếng nói của người dân thành phố nên đã ban hành nghị định ngày 8 tháng 7 năm 1869, chính thức được gọi là Hội đồng thành phố, với 13 thành viên, 7 do dân bầu và 6 do Thống đốc bổ nhiệm. . Y tá hải quân được bổ nhiệm Ông Turck là thị trưởng đầu tiên.

Từ vị trí này trên bán đảo Đông Dương, với Sài Gòn là thủ đô, chính phủ Pháp bắt đầu tập trung vào Campuchia và khu vực sông Mekong, với mục đích làm chủ sông Mekong từ hạ lưu đến thượng nguồn để đến Campuchia. Niềm mơ ước của các công ty và thương nhân ở nhiều nước phương tây.

Để đạt được mục tiêu này, Thống đốc Nam Kỳ thời kỳ đầu đã gây sức ép về chính trị và ngoại giao để gây ảnh hưởng đến Vương quốc Campuchia. Pháp thiết lập thành công chế độ bảo hộ ở Campuchia vào năm 1863 (chỉ vài năm sau khi nắm quyền kiểm soát Sài Gòn), chủ yếu là do triều đình Campuchia bị uy hiếp bởi Xiêm (Thái Lan) hùng mạnh, và dễ dàng chấp nhận ảnh hưởng của Pháp để thoát khỏi sự chiếm đóng của Xiêm.

Vì Campuchia nằm trong vùng ảnh hưởng của Pháp ở Sài Gòn, họ đã gửi các đoàn thám hiểm từ Sài Gòn sang Campuchia và Lào dọc theo sông Mekong trong nỗ lực xây dựng một con đường đến Vân Nam, miền nam Việt Nam. Chuyến thám hiểm đầu tiên là Doudard de Lagree đến Campuchia và khám phá lại những ngôi đền ở Angkor với những bức hình đầu tiên được chụp tại đây. Con đường từ Lào đến Vân Nam bị phong tỏa bởi những thác ghềnh hiểm trở, nhiều thành viên của trung đoàn chết vì kiệt sức, chỉ một số ít (trong đó có sĩ quan trẻ Francis Garnier) đến được Vân Nam và quay trở lại. Đi đến Sai Kung bằng đường biển.

Khi giấc mơ về một con đường từ Sài Gòn đến Vân Nam tan thành mây khói, tại Sài Gòn, người Pháp bắt đầu chú ý đến Bắc Việt Nam giáp Vân Nam và nam Trung Quốc. Có thể và dễ dàng hơn để đến Vân Nam từ đây. Nắm bắt được điều này, người Pháp bắt đầu tìm cách khiêu khích triều đình Huế và tạo cơ hội để chiếm chỗ đứng ở phía bắc. Năm 1873, người Pháp đưa một đội quân từ Sài Gòn do Trung úy Francis Garnier chỉ huy bằng thuyền đến Hà Nội, với lý do bảo vệ Jean Dupuis, một thương gia người Pháp từng cãi vã với chính quyền Việt Nam tại triều đình Huế. Quân đội của Garnier xâm lược Hà Nội, nhưng sau cái chết của Garnier, chính phủ Pháp ở Sài Gòn đã ký hòa ước với triều đình vào năm 1874.

Ngay sau đó, quân Pháp quay trở lại Tokyo để đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh, và cuộc giao tranh lan rộng cho đến khi quân Pháp chiếm được cửa Thuận An gần kinh đô Huế. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Nhà Thanh, Trận chiến Tokyo giữa Lực lượng Viễn chinh Pháp và Quân đội Đế quốc do Huang Kewei đứng đầu và Đội quân Cờ đen của Lu Yongfu tiếp tục cho đến khi Chiến tranh Pháp-Thanh xảy ra (1884-1885). Mãi cho đến khi Chiến tranh Trung-Pháp kết thúc bằng Hiệp ước Thiên Tân (1885), Trung Quốc mới từ bỏ sự bảo hộ của Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước và chấp nhận sự bảo hộ của Pháp tại Việt Nam. Hiệp ước Hòa bình Paternot năm 1884 nối tiếp Hiệp ước Harman năm 1883 và đặt Việt Nam hoàn toàn dưới sự thống trị của Pháp, với Nam Kỳ là thuộc địa, Tokyo và Trung Kyrgyzstan là các quốc gia bảo hộ như Campuchia.

Cuộc nổi dậy lớn nhất chống lại người Pháp và những người theo họ trong thời kỳ Pháp thành lập bảo hộ ở Tokyo và các bang miền Trung là cuộc nổi dậy của 18 vườn trầu ở Hóc Môn – Bà Điểm năm 1885. Lạm dụng quyền lực. Lập trường và được sự tin tưởng của Pháp, Tổng đốc Trần Tử Ca tham nhũng, đàn áp dân lành, cướp đoạt tài sản, ruộng đất của nhân dân là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc nổi dậy của nhân dân Sài Gòn-Crolong và ngoại thành. Đó cũng là sự khởi đầu của các hội kín gia nhập Tiandiahai và các nhóm tôn giáo nổ ra 20 năm sau với cuộc nổi dậy của Pan Xilong.

Việc xây dựng đường dây thép nối liền Sài Gòn, Nam Kỳ và các tỉnh của Campuchia, sau đó kéo dài sang Bắc Trung Bộ và cuối cùng sang Lào, là một công trình cơ sở hạ tầng rất quan trọng cho việc trao đổi của thực dân Pháp. Trong mọi việc từ hành chính, ngoại giao đến kinh tế và quân sự. Nếu không có hệ thống thông tin liên lạc nhanh chóng này, thực dân Pháp không thể quản lý và điều hành trên lãnh thổ Đông Dương rộng lớn, có địa hình đa dạng và khó đi lại.

Quá trình chuyển đổi từ chiếm một thống đốc hải quân sang củng cố và xây dựng cơ sở hạ tầng và hành chính bắt đầu với việc bổ nhiệm thống đốc dân sự đầu tiên, Le Myre de Vilers (1879 – 1882). Trong một thời gian ngắn, ông Le Myre de Vilers làm Thống đốc cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng dân dụng quan trọng, từ văn phòng đến đường bộ, đường thủy và đường sắt. Tại Sài Gòn, cơ sở hạ tầng cấp thoát nước, cơ sở y tế, nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur được hình thành và phát triển. Đặc biệt là việc xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước cho các đô thị hiện đại ngày càng phát triển. Sự sẵn có của nước sạch là điều kiện tiên quyết để đảm bảo an ninh sức khỏe cộng đồng, sau khi bùng phát dịch tả truyền nhiễm đã giết chết nhiều người Pháp, Việt Nam và Trung Quốc. Về kinh tế, Nam Kỳ vẫn chủ yếu là sản xuất và xuất khẩu lúa gạo, chủ yếu ở các tỉnh miền Tây. Hệ thống giao thông kết nối các tỉnh với Sài Gòn và Chợ Lớn qua sông rạch là huyết mạch của nơi đây. Các kênh đào đã được đào, và rất nhiều vùng đất mới đã được những người định cư khai phá. Nhưng cũng dẫn đến những vụ án tham ô, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và để cán bộ, địa phương yên vị. Vấn đề đất đai và chiếm đất đã dẫn đến cuộc nổi dậy của quần chúng ở làng Ninh Chiêng Rai (Rạch Giá) năm 1927 và vụ án năm 1928 ở làng Phong Thạnh (Bạc Liêu) còn được gọi là Vụ án đồng Nóc Cang.

Về mặt hành chính và dân cử, ông Le Myre de Vilers thành lập Hội đồng Thuộc địa theo sắc lệnh ngày 2 tháng 8 năm 1880, và Hội đồng Quận (Conseils d’arrondissement, District Council.local) vào ngày 15 tháng 5 năm 1882. Ở cấp thành phố, ông cải tổ Hội đồng thành phố Sài Gòn, lập ra Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Luật ban hành ngày 28 tháng 7 năm 1881 cung cấp cho Nam Kỳ một đại diện trong Nghị viện Pháp. Ông cũng bãi bỏ toàn bộ hệ thống lao động cưỡng bức ở Nam Kỳ, nhắm vào những người không đóng thuế, những người mà ông cho là không có lợi về mặt kinh tế và chính trị.

Trong suốt thế kỷ XX, tại Sài Gòn, chợ Bến Thành mới được thành lập để thay thế chợ cũ, tiêu biểu cho sự phát triển của thành phố, chợ Bến Thành mới trở thành trung tâm mua bán các mặt hàng phương Tây. Một mạng lưới xe lửa, thay thế phương tiện giao thông đường thủy truyền thống dọc theo các con kênh. Người Việt Nam nhận thức được sự cần thiết phải cải cách xã hội và tư tưởng, trong đó phát triển dân trí và nền kinh tế tự chủ là điều kiện tiên quyết để giành lại độc lập. Do các trí thức do Gilbert Trần Chánh Chiếu phát động, phong trào Minh Tân tập trung vào việc người Việt Nam tự cường và phát triển công nghệ, thương mại, cạnh tranh với người Hoa, người Pháp và người Ấn Độ về quyền lực kinh tế và nghị luận chính trị. Tuy không tồn tại lâu nhưng phong trào Minh Tân đã nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân về sự cần thiết phải chấn hưng tân cổ điển, nhất là sau biến động của hội kín Phan Xích Long – nhân vật tôn giáo huyền thoại của Thiên Địa Hội đã thu hút một số lượng lớn tương tự. Những người tin tưởng vào cuộc khởi nghĩa nông dân Tokyo trên tinh thần Kỳ Đồng.

Năm 1930, Viện Hải dương học (tiền thân là “Service des Pêche de l’Indochine”, thành lập năm 1922) được thành lập tại Nha Trang, với nhiều nhà khoa học nghiên cứu về sinh học, tài nguyên biển, sông hồ. Ở Đông Dương, việc sử dụng các phương tiện hiện đại như nhờ tàu nghiên cứu de Lanessan đã cung cấp cho chúng ta nhiều công trình nghiên cứu về giá trị đặc biệt của biển Đông và các dòng sông Đông Dương. Đặc biệt, các chuyến thăm nghiên cứu quần đảo Hoàng Sa vào những năm 1920-1930 và các ấn phẩm khoa học liên quan đến quần đảo này cũng là giai đoạn Pháp quan tâm đến lịch sử Việt Nam trong việc xác định vấn đề chủ quyền vùng biển và hải đảo của quần đảo Hoàng Sa. Thời Gia Long thông qua chủ quyền của triều đình Huế. Việc xây dựng một ngọn hải đăng trên đảo Hoàng Sa để tàu bè các nước qua lại là một trong những hệ quả của việc xác lập chủ quyền khi đối mặt với các mối đe dọa và đưa quân đến chiếm đóng nó trong Chiến tranh Trung-Nhật. Căng thẳng ở Thái Bình Dương là một động thái thực dụng với chủ quyền chiến lược.

Về văn hóa, Cải lương được hình thành và phát triển thông qua sự kết hợp ảnh hưởng của hát sóng, thangkataitu và tuồng phương Tây, là một sự kiện nổi bật của nghệ thuật kịch 1910-1925. Từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sự ra đời của các nhà in, nhà xuất bản ở Việt Nam đã thúc đẩy sự phát triển của văn học. Từ cuối thế kỷ 19 đến những năm 1920, Quốc gia văn học Sài Gòn và Nam Kỳ mở đường cho nền văn học Việt Nam hiện đại, với nhiều tác phẩm phản ánh những thay đổi của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Giao lưu nhân dân Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Về mặt chính trị, các hoạt động của Việt Nam chỉ giới hạn trong các hội đồng quận, hội đồng thành phố và hội đồng quận, nơi hầu hết các đại diện hoặc ủy viên hội đồng là người thân Pháp. Đảng Lập hiến được thành lập bởi ông Pei Guangzhao và các trí thức khác bao gồm các chủ đất và chủ doanh nghiệp giàu có. Việc Đảng lập hiến tham gia đấu tranh cho quyền lợi của tầng lớp trung lưu và người dân bản địa khá giả đánh dấu một thời kỳ hợp tác hòa bình, hy vọng rằng các lợi ích của Việt Nam sẽ được bảo vệ, có quyền tự chủ tốt và độc lập thông qua các cải cách trong tương lai. Nhưng điều này đã không diễn ra như mong muốn của CPP nên họ dần đánh mất uy tín trong mắt người dân Việt Nam.

Không tin tưởng vào chính sách “bình đẳng Pháp-Việt” đã dẫn đến việc thành lập các phong trào và tổ chức sau khi các hội đồng quận và thành phố đại diện cho người Việt ở sáu tỉnh trong nhiều năm. Cuộc đấu tranh giành độc lập của cộng sản lần thứ tư và thứ ba từ năm 1925 đến năm 1945. Cuộc đấu tranh giành độc lập từ thời Pháp thuộc là một thời kỳ anh hùng và bất khuất của dân tộc Việt Nam trong lịch sử cận đại, mà chúng tôi sẽ giới thiệu trong một cuốn sách nghiên cứu sắp tới.

đoạn trích:

— Trích “Những người Paris nhỏ” (27 tháng 12 năm 1909), một tờ rơi về cuộc khởi nghĩa chống Pháp in ở Nhật Bản được phát hành ở Nam Kỳ và do ông Gilbert Chiếu, lúc đó là tổng biên tập của tờ Nông Cổ Mưu Đàm, đã cài cắm. , chui vào các tờ báo và tờ rơi mà không cần biết nội dung của các nhà kiểm duyệt Pháp. Tờ rơi kêu gọi một cuộc nổi dậy đã được dịch sang tiếng Pháp như sau:

“Chúng tôi là chủ sở hữu tự nhiên của đất nước này, và nếu chúng tôi không giữ đất nước này, chúng tôi sẽ không có quyền sở hữu đó.

Hãy nghĩ đến Phổ và Mỹ, họ cũng gặp khó khăn và thất bại, nhưng họ đã vực dậy và đổi mới đất nước bằng cách từ bỏ thói quen của mình.

Đọc qua các cuốn sách lịch sử trong thời gian rảnh rỗi của tôi, tôi thấy rằng các cuộc cải cách của Nhật Bản là một thành công hoàn toàn.

Bằng tất cả những nỗ lực của mình, họ đã tạo được chỗ đứng cho mình trên thế giới. ”-

Sài Gòn và Nam Kỳ trong thời kỳ Phục hưng 1875-1925
hình ảnh
hình ảnh
hình ảnh

Sach.info – thư viện sách miễn phí. Chúc các bạn có thêm nhiều kiến thức bổ ích từ website sach.info.
175,000 vnđ

500

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *